Quy định về thời gian thử việc tối đa trong hợp đồng thử việc

Hiện nay, trước khi ký kết hợp đồng lao động chính thức thông thường bên phía người sử dụng lao động thường ký kết hợp đồng lao động thử việc để có quá trình đánh giá người lao động. Người sử dụng lao động và người lao động hoàn toàn được thỏa thuận với nhau về nội dung thử việc, quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng thử việc.

Về nội dung của hợp đồng thử việc, hai bên có thể thỏa thuận quy định thời hạn của hợp đồng lao động nhưng thời hạn này cần đáp ứng được điều kiện luật định. Căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc, tại quy định tại Điều 27 Bộ luật Lao động 2012 quy định về thời gian thử việc của người lao động. Theo đó, người sử dụng lao động chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và đảm bảo được điều kiện về thời gian như sau:

+ Đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên chỉ được thử việc người lao động tối đa 60 ngày.

Người lao động trong trường hợp này cần cung cấp cho người sử dụng lao động bằng cấp, chứng chỉ chứng minh trình độ chuyên môn, kỹ thuật như: bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học, kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ, giáo sư,…

+ Đối với công việc có chức danh nghề chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ chỉ được thử việc người lao động tối đa 30 ngày.

+ Đối với các công việc còn lại chỉ được thử việc người lao động tối đa 06 ngày.

Đối tượng thuộc trường hợp này ví dụ như: có bằng tốt nghiệp cấp 3, các chứng chỉ khác,… dùng để tham gia lao động phổ thông.

Đây thời gian tối đa mà người lao động phải tham gia thử việc để sau đó tham gia lao động dưới các loại hợp đồng: hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng xác định thời hạn, hợp đồng có công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng. Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng mùa vụ thì không phải thử việc. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về thời gian thử việc trong giới hạn luật định, tức có thể ít hơn hoặc bằng hoặc thậm chí người sử dụng có thể giao kết hợp đồng với người lao động luôn không cần qua thử việc.

Nếu sau khi kết thúc thời gian thử việc như trên, người sử dụng lao động có bắt buộc nhận người lao động vào làm? Việc có thực hiện giao kết hợp đồng hay không phụ thuộc vào đánh giá thử việc của người sử dụng lao động. Nếu công việc đã làm thử được người sử dụng đánh giá đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động bắt buộc phải nhận người lao động vào làm việc, tức phải giao kết ngay hợp đồng lao động. Nếu công việc đã làm thử được người sử dụng lao động đánh giá không đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc phải thông báo cho người lao động biết và không bắt buộc phải giao kết hợp đồng. 

Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo kết quả thử việc cho người lao động trong thời hạn như sau: Với các công việc có chức danh nghề chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên thời hạn thông báo trong 03 ngày ngày trước khi kết thúc thử việc. Với các công việc còn lại thì người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo kết quả công việc cho người lao động ngay sau khi kết thúc thời gian thử việc. 

hợp đồng thử việc

Ví dụ như: A được tuyển dụng vào làm nhân viên ngân hàng đối với vị trí giao dịch viên và yêu cầu tuyển dụng cần bằng đại học ngành tài chính ngân hàng trở lên. Vậy nên, hợp đồng thử việc giữa A và ngân hàng được giao kết trong thời hạn là 2 tháng (60 ngày). Trong vòng 03 ngày trước khi kết thúc thời hạn thử việc, tức từ ngày thứ 57 đến ngày kết thúc thử việc, ngân hàng phải có trách nhiệm thông báo kết quả thử việc cho A và quyết định có giao kết hợp đồng lao động hay không. Nếu A được đánh giá đạt thì không được phép không tuyển dụng A vào làm nhân viên chính thức. 

Việc đánh giá đạt hay không đạt có bắt buộc phải lập bằng văn bản hay không? Câu trả lời là không, hiện nay pháp luật không quy định bắt buộc đánh giá phải lập thành văn bản. Tuy nhiên việc đánh giá này nên có tiêu chí cụ thể, thống nhất và áp dụng công bằng cho tất cả người lao động. Các tiêu chí đánh giá như: Kết quả hoàn thành công việc được giao (KPI, người quản lý trực tiếp đánh giá,…); Kỹ năng (làm việc nhóm, cá nhân, giao tiếp,…); Phẩm chất cá nhân (trung thực, chăm chỉ,…); Thái độ làm việc; Khả năng phối hợp trong công việc; Tinh thần trách nhiệm, kỷ luật;… Việc đánh giá này phải được nhân viên có trình độ chuyên môn và thẩm quyền đánh giá, sau đó trình lên Ban giám đốc ký xác nhận. 

Trong thời gian thử việc này, người sử dụng lao động và người lao động có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc. Việc ngừng thử việc không có quy định thời hạn báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận lúc đầu hoặc không đáp ứng được yêu cầu như bên sử dụng lao động đã đưa ra lúc tuyển dụng. 

Với một công việc giao kết với một bên người sử dụng lao động thì chỉ được ký một hợp đồng thử việc duy nhất. Sau khi kết thúc hợp đồng thử việc này không được giao kết thêm hợp đồng thử việc hay gia hạn thêm thời hạn thử việc, bất kể việc đánh giá thử việc là đạt yêu cầu hay không đạt yêu cầu. Vậy bắt buộc sau thử việc người sử dụng phải đưa ra quyết định hoặc là giao kết hợp đồng lao động hoặc không giao kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, thực tế hiện nay lại xuất hiện một số thực trạng về việc sau thời hạn thử việc, người sử dụng lao động không đưa ra đánh giá cũng không thông báo cho người lao động về việc giao kết hợp đồng mà vẫn để người lao động tiếp tục làm việc. Khi có tranh chấp lao động về vấn đề này thì những ngày làm việc sau thử việc này thường sẽ được tính là thời gian làm việc chính thức. Nhưng trong luật không đưa ra các chế tài đối với các trường hợp để người lao động tiếp tục làm việc sau thử việc mà không giao kết hợp đồng lao động thì sẽ phải chịu trách nhiệm như thế nào, cũng như không có quy định khoảng thời gian này của người lao động sẽ được tính hưởng quyền lợi với hình thức hợp đồng lao động nào, ví dụ như hợp đồng không xác định thời hạn hay hợp đồng xác định thời hạn. Mong rằng, trong thời gian sớm nhất các nhà làm luật nên đưa ra các quy định rõ ràng để xử lý thực trạng này.

Xem thêm: 

>>> Độ tuổi kết hôn theo quy định pháp luật

>>> Mức lương bao nhiêu thì phải đóng thuế thu nhập cá nhân

—————————————————————————–

Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

www.luatthienminh.vn

Trân trọng !