Theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, có ba nhóm đối tượng chính không được hưởng di sản thừa kế:
(1) Người bị pháp luật tước quyền do có hành vi vi phạm nghiêm trọng với người để lại di sản hoặc đồng thừa kế;
(2) Người bị người để lại di sản truất quyền thông qua ý chí định đoạt trong di chúc; và
(3) Người chủ động từ chối nhận tài sản. Việc phân định chính xác các trường hợp này là cơ sở cốt lõi để tiến hành phân chia di sản minh bạch, ngăn chặn khiếu kiện kéo dài và đảm bảo tính hợp lệ của hồ sơ khi thực hiện các thủ tục đăng ký biến động tài sản tại cơ quan hành chính nhà nước.
Nhóm Bị Tước Quyền Theo Quy Định Pháp Luật (Điều 621 BLDS 2015)
Pháp luật quy định 4 nhóm hành vi dẫn đến việc một cá nhân tự động mất quyền thừa kế, áp dụng cho cả thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc, trừ trường hợp người để lại di sản biết về hành vi đó nhưng vẫn lập di chúc cho họ hưởng tài sản.
-
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, làm người đó tổn hại nghiêm trọng về thể chất, tinh thần.
-
Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản (như từ chối cấp dưỡng, bỏ mặc khi ốm đau dù có đầy đủ khả năng thực hiện).
-
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm mục đích giành một phần hoặc toàn bộ di sản.
-
Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản lập, sửa đổi, hủy bỏ di chúc; hoặc có hành vi giả mạo, sửa chữa, tiêu hủy, che giấu di chúc nhằm hưởng lợi bất chính.
Yếu tố "bị kết án" trong các trường hợp xâm phạm tính mạng, sức khỏe bắt buộc phải được chứng minh bằng một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc can thiệp trái phép vào việc lập di chúc, cần có tài liệu chứng cứ rõ ràng, văn bản xử phạt hành chính hoặc phán quyết dân sự tương ứng để tổ chức hành nghề công chứng có căn cứ từ chối thụ lý tư cách thừa kế của người này.
Nhóm Bị Truất Quyền Bởi Người Để Lại Di Sản
Truất quyền thừa kế là sự thể hiện ý chí đơn phương của người để lại di sản, được xác lập hợp pháp thông qua di chúc. Người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản của mình, bao gồm việc gạt bỏ một hoặc một số người thừa kế theo pháp luật ra khỏi khối di sản mà không cần phải giải trình lý do hay viện dẫn căn cứ pháp lý.
Pháp luật bảo lưu một ngoại lệ quan trọng nhằm bảo vệ nhóm đối tượng yếu thế trong gia đình. Căn cứ Điều 644 BLDS 2015, có những đối tượng dù bị truất quyền trong di chúc nhưng vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba (2/3) suất của một người thừa kế theo pháp luật, bao gồm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên nhưng không có khả năng lao động. Đây là ranh giới pháp lý thường xuyên phát sinh khiếu kiện, đòi hỏi quá trình lập hồ sơ khai nhận di sản phải xác minh chặt chẽ tình trạng nhân thân và năng lực hành vi của từng thành viên trong gia đình.
Nhóm Chủ Động Từ Chối Nhận Di Sản Thừa Kế
Người thừa kế hoàn toàn có quyền định đoạt việc nhận hay không nhận tài sản, miễn là hành vi từ chối không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với bên thứ ba (như trốn nợ vay ngân hàng, trốn nghĩa vụ thi hành án dân sự hoặc nợ thuế nhà nước).
-
Việc từ chối nhận di sản bắt buộc phải được lập thành văn bản rõ ràng, được công chứng hoặc chứng thực chữ ký hợp lệ.
-
Văn bản từ chối phải được thông báo công khai cho người quản lý di sản, những người thừa kế khác và người được giao nhiệm vụ phân chia di sản.
-
Quyền từ chối phải được thực hiện trước thời điểm phân chia di sản; sau khi khối tài sản đã được phân định xong, yêu cầu từ chối sẽ không còn giá trị pháp lý.
Trong thực tiễn giải quyết thủ tục tại các tổ chức công chứng và bộ phận một cửa, nếu cơ quan chức năng hoặc người có quyền lợi liên quan phát hiện người từ chối đang là người phải thi hành án trong một bản án khác mà chưa thực hiện xong nghĩa vụ, văn bản từ chối này có thể bị đề nghị Tòa án tuyên bố vô hiệu để kê biên phần di sản đó, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các chủ nợ.
Hướng Dẫn Thực Tiễn Xử Lý Hồ Sơ Khai Nhận Di Sản
Khi vụ việc có xuất hiện yếu tố người thừa kế không được hưởng di sản, khâu chuẩn bị tài liệu chứng cứ cần sự chính xác tuyệt đối để hồ sơ không bị ách tắc hoặc đình chỉ khi lưu chuyển qua các cơ quan hành chính liên thông.
-
Cung cấp Trích lục bản án, Quyết định giải quyết dân sự có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp bị tước quyền theo Điều 621.
-
Cung cấp bản gốc Di chúc hợp pháp kèm theo các giấy tờ y tế, chứng nhận khuyết tật hoặc giấy khai sinh để chứng minh điều kiện hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc đối với nhóm đối tượng ngoại lệ của Điều 644.
-
Cung cấp Văn bản từ chối nhận di sản hợp lệ, kèm theo cam kết không sử dụng việc từ chối để trốn tránh các nghĩa vụ tài chính, dân sự hiện có.
Toàn bộ tài liệu chứng minh này sẽ được thẩm định kỹ lưỡng trong thời gian niêm yết 15 ngày tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Nếu phát sinh khiếu nại giữa người bị tước quyền, truất quyền và các đồng thừa kế còn lại mà không thể tự thỏa thuận, thủ tục khai nhận di sản sẽ bị tạm dừng. Các bên buộc phải khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bằng một bản án phân chia di sản chính thức trước khi có thể hoàn tất việc đăng ký sang tên quyền sở hữu tài sản.
Công ty TNHH Luật Thiên Minh chuyên cung cấp dịch vụ Lập Di Chúc Có Người Làm Chứng và các thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài trên phạm vi toàn quốc.
✅ Công ty TNHH Luật Thiên Minh
🏛 Trụ sở chính: Số 10, ngõ 139/35, đường Tam Trinh, phường Vĩnh Tuy, Thành phố Hà Nội.
📞 Điện thoại: 0941.477.020 (Zalo/Line/Messenger)
📩 Email: info.luatthienminh@gmail.com
🌐 Website: luatthienminh.vn